Các chuyên mục
THÔNG TIN VISA

Chúc mừng anh Vương Đình Đước đã được cấp visa du lịch Úc vào ngày 13/10/2011

Chúc mừng EmThạch Tiến Đạt Đậu Visa du học tại trường SIT ở New Zealand vào ngày 24/11/2011

Chúc mừng Em Phạm Hoàng Phong Đậu Visa du học tại trường SIT ở New Zealand vào ngày 17/11/2011

Chúc mừng Anh Dương Thế Phong Đậu Visa du học tại trường Ntect ở New Zealand vào ngày 12/12/2011

Chúc mừng Em Nguyễn Thị Hương Lan Đậu Visa du học tại trường Ntect ở New Zealand vào ngày 16/12/2011

Chúc mừng Anh Vũ Đức Tuấn Đậu visa du lịch Úc vào ngày 12/11/2011

Chúc mừng Mẹ Con Chị Dương Hoàng Anh Du Đậu visa du lịch Úc vào ngày 05/12/2011

Chúc mừng Cô Nguyễn Thị Lớp Đậu visa du lịch Úc vào ngày 10/11/2011

Chúc mừng Anh Trần Ngọc Ấu Đậu Visa công tác vào ngày 14/12/2011

Chúc mừng Em Đoàn Thị Minh Mẫn Đậu Visa 575 du học Úc vào ngày 16/12/2011

Chúc mừng Em Nguyễn Thị Kim Nhung Đậu Visa du học Mỹ vào ngày 15/11/2011

Chúc mừng Cô Phạm Thị Huyền đã đậu Visa du lịch vào ngày 06/01/2012 đi cùng con gái là Nguyễn Thị Hương Lan Visa du hoc New Zealand

Xin chúc mừng cô Trần Thị Hiển đã được cấp visa giám hộ (cho em Lê Trần Nhật Minh) tại New Zealand ngày 8/9/2011

Xin chúc mừng em Lê Trần Nhật Minh đã được cấp visa du học tại trường Newlands (New Zealand) vào ngày 8/9/2011

Xin chúc mừng anh Nguyễn Thụy đã được cấp visa du học tại trường NTEC (New Zealand) vào ngày 8/9/2011

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Main Office:
Địa chỉ: 38 Trần Quý Khoách, P.Tân Định, Quận 1, Tp.HCM.

Tel: 08 3602 5613 - 3602 5614

Văn phòng đại diện tại Hà Nội:
Địa chỉ: tòa nhà Contrexim 8, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân Bắc, Hà Nội
Tel: 04. 62858435

Mobile: 0903901301 (Ms. Hương Giang)
Văn phòng đại diện tại Cần Thơ:
Địa chỉ: 131B Mậu Thân (Nối dài), P.An Hòa, Quận Ninh Kiều, Cần Thơ.
Tel: 0710. 3894 277

Văn phòng đại diện tại Tây Ninh:
Địa chỉ: 152 Nguyễn Thái Học, KP4, P.3, TX Tây Ninh, Tây Ninh.
Tel: 066.6250 273

Thông kê truy cập
Đang online
3
Tổng truy cập
500000

Huấn Nghệ Đông Á GroupDu học Newzealand

THÔNG TIN THAY ĐỔI VỀ CHÍNH SÁCH ĐỊNH CƯ VÀ DU HỌC TỪ 04/2012

 Giáo dục là một trong năm ngành xuất khẩu hàng đầu, đóng góp cho nền kinh tế New Zealand xấp xỉ $ 2,3 triệu mỗi năm và tạo ra 32,000 việc làm.

Những thay đổi trong chính sách định cư nhằm thu hút hơn nhiều sinh viên quốc tế, và cho phép những sinh viên giỏi và thông minh nhất được ở lại New Zealand để giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua cải tiến và tăng năng suất.

Những thay đổi này chủ yếu tập trung vào những sinh viên đại học và loại bỏ những sinh viên dưới bậc đaị học có mục đích định cư để đảm bảo rằng những sinh viên này chọn ở lại đây là đã được đánh giá tốt để đảm trách những công việc đòi hỏi tay nghề cao.

Việc thay đổi sẽ bắt đầu có hiệu lực từ ngày 25/07/2011. Đó sẽ là:

-          Tăng cường những điều kiện và thủ tục xin thị thực du học (không đưa ra thêm những yêu cầu đối với các cơ sở giáo dục chất lượng tốt).

-          Tạo điều kiện thuận lợi cho việc học và đào tạo của những sinh viên có ý định du học chân thực, và

-          Tạo điều kiện cho những sinh viên tốt nghiệp đại học có tay nghề cao có thể làm việc và định cư.

Những thay đổi này sẽ hỗ trợ tốt hơn cho sự tăng trưởng của ngành giáo dục xuất khẩu này và những mục tiêu kinh tế rộng lớn hơn của New Zealand.

NHỮNG THAY ĐỔI QUAN TRỌNG TỪ NGÀY 25/07/2011

Sẽ có thêm nhiều tiêu chuẩn được đưa ra để quyết định liệu những sinh viên nào đủ chân thực để học ở đây, cũng như đảm bảo những nhà giáo dục đã đánh giá khả năng của sinh viên trước khi cấp thư nhập học (Offer of Place).

Sinh viên sẽ được yêu cầu tham gia đầy đủ các khóa học, như được yêu cầu, trừ khi họ có lý do chính đáng cho sự vắng mặt.

Sự tiến bộ của sinh viên sẽ được quyết định bởi cơ sở giáo dục và được đánh giá dựa trên chính sách học tập riêng của các cơ sở giáo dục đó.

Sinh viên cần chứng minh với Bộ Di Trú New Zealand rằng họ sẽ cung cấp bằng chứng tài chính chân thực cho việc học của mình.

Những người mà nhận bảo trợ hay cam kết tài chính được yêu cầu phải là

-          bạn hay họ hàng của đương đơn (nếu họ là những cá nhân), và

-          có ý định chân thực để hổ trợ sinh viên và có đủ tài chính cho mỗi sinh viên mà họ đại diện

-          Sẽ có những thay đổi linh động hơn cho các sinh viên có ý định du học chân thực đó là sẽ mở rộng thêm những tiêu chuẩn bảo trợ cho các tổ chức hay cơ quan chính phủ, và cho phép bên thứ 3 mà thực hiện cam kết tài chình ở nước ngoài sẽ tiếp tục được nộp đơn trong nước sở tại.

-          Bộ Di Trú New Zealand sẽ thực hiện nhiều quyền hạn hơn để đảm bảo rằng sinh viên chỉ được cấp thị thực để học ở những cơ sở giáo dục có chất lượng tốt.

-          Thời gian có hiệu lực của lý lịch tư pháp và chứng nhận sức khỏe cho sinh viên sau đại học, chồng hoặc vợ của họ và con cái sẽ được mở rông thêm từ 24 đến 36 tháng, cũng áp dụng cho những sinh viên nước ngoài trả phí.

-          Những người giữ thị thực làm việc sẽ không cần phải nộp đơn xin Variation of Condition mà yêu cầu chủ lao động phải đào tạo như một phần trong công việc.

-          Thị thực làm việc sẽ chỉ dành cho vợ hoặc chồng của sinh viên học các khóa sau đại học và các khóa học có trong danh sách những công việc đòi hỏi tay nghề thiếu hụt trong  dài hạn Long Term Skills Shortage List (LTSSL) ở Level 7 (mức cử nhân đại học) và trên mức 7, hơn là vợ/chồng của bất kì sinh viên nào học các khóa học có trong danh sách LTSSL.

Những thay đổi đối với thị thực Study to Work

-          Những sinh viên đạt được văn bằng thứ hai ở cấp đại học hay sau đại học có thể nộp đơn xin Graduate Job Search Visa (Thị thực tìm kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp).

-          Hai chính  sách Study to Work đã được đổi tên và sẽ có một mục tiêu mới trong hướng dẫn định cư. Các chính sách Study to Work là:

o   Graduate Job Search Visa (không đổi)

o   Graduate Work Experience Visa (trước đây được gọi là Work on completion of a course of study, with an offer of employment)

o   Mục tiêu mới sẽ đảm báo rằng mục đích chính của hai chính sách này là để nối kết những người chủ lao động ở New Zealand với những sinh viên đại học trình độ cao và mở ra con đường đi đến định cư cho những sinh viên này.

o   Một định nghĩa mới của ‘RELEVANCE’ ( sẽ được đưa ra trong hướng dẫn Graduate Work Experience để cung cấp những chỉ dẫn tốt hơn rằng một thư cung cấp việc làm (Job Offer)  liệu có liên quan gì đến văn bằng học hay không.

o   Những sinh viên với văn bằng 3 năm mà chưa được công nhận trong SMC (Skilled Migration Category: Loại định cư tay nghề) (VD: những khóa học dưới level 4) sẽ không có đủ tiêu chuẩn để xin thị thực Graduate Work Experience visa.

Những thay đổi đối với Skilled Migrant Category

-          Những thay đổi đối với Skilled Migrant Category sẽ áp dụng cho những sinh viên mới mà bắt đầu học ở  New Zealand từ ngày 25/07/2011. Thay đổi này sẽ không áp dụng cho những sinh viên đã có văn bằng New Zealand hay những sinh viên hiện đang học ở New Zealand.

-          Những đương đơn xin định cư hiện nay có thể truy cập điểm cho những văn bằng được công nhận. Từ ngày 25/07/2011, điểm sẽ có sự khác biệt trên nền tảng sau:

Qualification (NZQF)

Hiện nay

Từ 07/2011

Level 3-6*

50

40

Level 7-8

50

50

Level 9-10

55

60

 

*Level 3  có trong danh sách những văn bằng được công nhận  như một ngoại lệ

- Vợ hoặc chồng của đương đơn chính hiện nay có thể truy cập điểm cho những văn bằng được công nhận. Từ ngày 25/07/2011, những điểm này sẽ có sự khác biệt trên nền tảng sau :

Qualification (NZQF)

Hiện Nay

Từ 25/07/2011

Level 3-6*

20

10

Level 7-10

20

20

 

*Level 3 có trong danh sách những văn bằng được công nhận là một ngoại lệ

·         Những đương đơn được cộng điểm thưởng cho những văn bằng được công nhận ở New Zealand phải có:

o   Một bằng đại học và đã học ở New Zealand cho thời gian tối thiểu là hai năm ( trên 4 học kì của ít nhất 16 tháng) (10 điểm), hay

o   Một bằng sau đại học và đã học ở New Zealand một năm (tối thiểu hai học kì và 8 tháng học) (10 điểm), hay

o   Một bằng sau đại học và đã học ở New Zealand tối thiểu hai năm (15 điểm)

·         Văn bằng tiếng anh dành cho những người nói ngôn ngữ khác (ESOL) sẽ không còn đủ tiêu chuẩn để tính điểm SMC. Những điểm này chỉ được sử dụng khi sinh viên muốn học bậc cao hơn.

·         Những cựu sinh viên quốc tế với bằng cao đẳng hay chứng chỉ phải đáp ứng tiêu chuẩn tiếng anh tối thiểu cho loại định cư tay nghề (SMC) (Điểm trung bình IELTS 6.5).

·         Những thay đổi cũng sẽ đảm bảo rằng những cựu sinh viên mà có đủ tiêu chuẩn cho định cư sẽ cần phải có một nghề nghiệp chuyên môn ở New Zealand.

TỪ THÁNG 11/2011

Định nghĩa về việc học toàn thời gian sẽ dựa trên loại khóa học hơn là loại hình cơ sở giáo dục, để thống nhất cho tất cả các cơ sở giáo dục và giúp sinh viên dễ dàng xin thị thực hơn.

TỪ NGÀY 02/04/2012

Những thay đổi trong loại Study to Work category

-          Những thay đổi  trong hướng dẫn Study to Work sẽ áp dụng cho những sinh viên mới mà bắt đầu học ở New Zealand kể từ ngày 02/04/2012. Thay đổi này sẽ không áp dụng cho những sinh viên đã có văn bằng New Zealand hay những sinh viên hiện đang học ở New Zealand.

-          Điều kiện cho Study to Work visas, sinh viên cần phải đạt được một văn bằng New Zealand được công nhận với ít nhất hai năm (tối thiểu 4 học kì và 16 tháng) trừ khi họ đạt được:

o   Hai văn bằng với điểm tích lũy cho định cư tay nghề (SMC: Skilled Migration Category) (từ Level 4 đến 6) hoàn thành ít nhất trong một năm (tối thiểu 2 học kì và 8 tháng), phải cung cấp thêm bằng chứng về khóa học tiếp theo ở mức độ cao hơn- ví dụ: văn bằng trong 1 năm thuộc Level 5 thì theo sau đó sẽ là văn bằng trong một năm Level 6, hay

o   Hay văn bằng sau đại học với ít nhất 1 năm, hay

o   Một văn bằng đại học được chuyển đổi theo tín chỉ với ít nhất một năm ở New Zealand, hay

o   Bất kì văn bằng nào thuộc Level 7 với ít nhất 1 năm.

NHỮNG THAY ĐỔI KHÁC VÀO THÁNG 04/2012

-          Tài chính được yêu cầu đối với những đương đơn muốn xin Graduate Job Search Visas sau khi tốt nghiệp sẽ tăng từ $2.100 đến $4.200.

-          Tài chính được yêu cầu đối với vợ hoặc chồng của những người giữ thị thực du học muốn xin thị thực việc làm sẽ là $4.200

-          Tài chính được yêu cầu đối với những đương đơn xin thị thực du học sẽ tăng từ $10.000 đến $ 15.000 mỗi năm cho các khóa học trong vòng 36 tuần hay dài hơn, hay $1.250 mỗi tháng cho các khóa học ngắn hạn (chưa trừ chi phí sinh hoạt trả trước).

Những hướng dẫn định cư làm nền cho những thay đổi mà được đưa ra vào ngày 25/07/2011 hiện đang được hoàn chỉnh và sẽ được công bố trên website của Bộ Di Trú New Zealand wwwimmigration.govt.nz vào tháng 07/2011